Navigation

Hà Nội và một nước Việt buồn của thế hệ đổ vỏ ốc

 

 Lê Diễn Đức

 
 
Ngày 10 tháng 10 năm 2011 người Hà Nội kỷ niệm lần thứ 57 ngày giải phóng Thủ đô.
 
Cách đây hơn hai tháng, ngày 27/7/2011, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ký duyệt “Quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”.[1]
 
Trong quy hoạch chung không thấy nói tới khu Phố Cổ Hà Nội, mà chỉ thấy nhắm vào sơ đồ thiết kế mở rộng.
 
Thực ra, đã có dự án giãn dân cho khu Phố Cổ Hà Nội từ năm 1998, nhưng sau 13 năm, tới tháng 7 vừa qua mới được thẩm định và vẫn chờ phê chuẩn. Theo dự án này, khoảng 40% dân ở khu Phố Cổ sẽ di chuyển khỏi khu vực, giảm mật độ từ 840 người/hécta xuống 500 người/hécta vào năm 2020.
 
Tuy nhiên, cả trong dự án giãn dân cũng không thấy kế hoạch cụ thể nào về tôn tạo khu Phố Cổ.
 
Cũng là Phố Cổ
 
Một trang website giới thiệu khu Phố Cổ Hà Nội có đoạn:
 
Khu Phố cổ Hoàn Kiếm là nơi hội tụ 36 phố phường, có bề dày gần một ngàn năm lịch sử của một khu đô thị buôn bán sầm uất. Khu phố mang đậm trong mình những dấu vết lịch sử. Các phố mang tên các mặt hàng được sản xuất hoặc bày bán ở đó: phố Hàng Bông, phố Hàng Gai, phố Lò Rèn, phố Hàng Đường. Trong khu vực phố cổ có rất nhiều di tích lịch sử lâu đời, gồm đình, đền, chùa, hội quán…”. [2]
 
Hà Nội có nét đẹp đặc thù nhờ vị thế lịch sử, là trung tâm chính trị, văn hoá và khoa học của cả nước, có các quần thể kiến trúc từ thời Pháp thuộc và những dãy nhà “mái ngói xô nghiêng”, lô nhô nối tiếp nhau. Hồ Gươm, Hồ Tây cùng với những con đường rợp bóng cây cổ thụ, mang lại cho Hà Nội sự lãng mạn, thanh bình.
 
Nhưng thiếu khu Phố Cổ, Hà Nội sẽ mất đi cái hồn trầm tích, thiêng liêng của Thăng Long văn hiến, nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ tạo nên các tác phẩm qua mọi thời gian. Người ta nói khu Phố Cổ giống như “cái lòng đỏ của quả trứng gà”, “tinh hoa tròn trịa của cả dân tộc” nằm trên “mảnh đất rồng thiêng hội tụ”.
 
Phổ Cổ đang xuống cấp ở mức bi kịch, nhưng lãnh đạo Hà Nội suốt nhiều giai đoạn khác nhau, hoặc lúng túng trước giải pháp, hoặc bận rộn với những lợi ích to lớn hơn, chỉ thực hiện tôn tạo thí điểm vài chỗ đầy tính chắp vá, phó mặc nó cộng sinh tồn tại.
 
Mãi đến năm 1995, tức là 20 năm sau chiến tranh, Bộ Xây dựng mới có quyết định khoanh vùng cần bảo vệ tôn tạo. Mất 10 năm nữa, năm 2004, Bộ Văn hoá và Thông tin mới xếp hạng Khu phố cổ vào “Di sản lịch sử của quốc gia”.
 
Lẽ ra tôi không so sánh với nước khác, dễ bị cho là khập khiễng, nhưng không dưới một lần Hà Nội đã tổ chức ngày hội văn hoá Phố Cổ, mà “trong khuôn khổ lễ hội còn có hội thảo về tôn tạo phố cổ ở các thành phố châu Âu và châu Á”, nhằm "trao đổi kinh nghiệm trong việc bảo tồn và nâng cao giá trị di sản…”.[3]
 
Trong Chiến tranh thế giới II, đất nước Ba Lan đứng hàng đầu trong những quốc gia ở châu Âu chịu nhiều bất hạnh nhất. Thủ đô Warszawa bị Hitler san thành bình địa trong cuộc khởi nghĩa năm 1944, với khoảng 10 ngàn binh sĩ và 200 ngàn thường dân thiệt mạng, 7 ngàn người mất tích, 5 ngàn người bị thương. Cả thành phổ cổ trong đó có một khu rộng lớn với cung vua, nhiều nhà thờ, khu chợ, nhà ở, thành quách bao quanh có từ thế kỷ 14, chỉ còn là đống gạch vụn.
 
Trên đống đổ nát, hoang tàn ấy và khi tiềm lực kinh tế còn nghèo nàn, người Ba Lan đã tiến hành tái thiết khu phố cổ ngay từ những ngày đầu tiên. Trong vòng hơn 2 thập niên, toàn bộ một khu phố cổ rộng lớn được phục chế nguyên trạng, duy nhất trên thế giới về quy mô, là niềm tự hào của dân tộc Ba Lan.
 
Tôi vẫn nhớ những đợt mở các két sắt khổng lồ đựng tiền quyên góp của dân chúng Ba Lan trong và ngoài nước. Các em học sinh tình nguyện tham gia phân loại và đếm tiền vui như trẩy hội.
 
Đi từ trung tâm thủ đô Warszawa tới Thành Cổ, chúng ta sẽ thấy một quần thể kiến trúc nào đó được phục chế nguyên trạng, còn phía đối diện trên hè phố bên kia đường là những bệ đá trên mặt phủ kính, trong đó có hình chụp quần thể kiến trúc ấy trước khi bị tàn phá. Du khách qua lại có cơ hội thán phục đôi bàn tay kỳ diệu của con người.
 
 
Một cảnh của Thành Cổ Warszawa (ảnh trên) và một cảnh của Cung Vua được phục chế (ảnh dưới)
 
Tầm văn hoá nào?
 
Phố Cổ Hà Nội không bị tàn phá sau chiến tranh.
 
Đã đành, làm mới và phục chế nguyên trạng tuy đã rất khó, nhưng vẫn dễ hơn tôn tạo những công trình có dân cư ngụ, nhưng không phải không thể thực hiện được. Các công trình kiến trúc cổ, thậm chí có hàng trăm năm trước công nguyên, ở Athens (Hy Lạp) hay Roma (Ý), chứng minh điều đó.
 
Ai đó đổ lỗi cho cái nghèo của Việt Nam, e rằng mâu thuẫn với những gì đang diễn ra.
 
Nếu không bị quốc hội bác bỏ, ekíp của ông Nguyễn Tấn Dũng đã có thể kiếm ra 56 tỷ đôla cho dự án đường tàu cao tốc và tham vọng này vẫn chưa dừng lại. Ông Dũng cũng chẳng khó khăn chuẩn thuận nhiều tỷ đôla cho Trung Quốc làm tổng thầu hơn 90% dự án quốc gia quan trọng. Con đường cao tốc Trung Lương - Hồ Chí Minh đã chẳng được làm với giá thành “cao nhất hành tinh” đó sao?
 
Phục vụ Lễ hội Nghìn năm Thăng Long Hà Nội, nhà nước đã từng hào phóng bỏ ra hàng ngàn tỷ đồng. Nhiều tiền đến mức vỉa hè quanh Hồ Gươm còn tốt đẹp cũng bị đào lên để thay bằng đá tấm, bị dư luận phê phán dữ dội mới ngừng lại.
 
Trong khi đó, một ít mặt tiền các căn nhà Phố Cổ thì được sơn phết loang lở. Vài công trình tu sửa xong trở thành sản phẩm lố bịch, điển hình là cổng Ô Quan Chưởng. Người Hà Nội đã mỉa mai:
 
“Trùng tu di tích tuyệt vời
Từ cụ cao tuổi lên đời ca ve
Tiền vào lắm lỗ nhiều khe
Cho nên nó mới bét nhè cổ kim
Nào là bản sắc giữ gìn
Nào là sáng suốt niềm tin chói lòa
Làm ăn be bét thế a?
To mồm cứ hát bài ca tuyệt vời”....
(Trương Tuần)
 
 
Ô Quan Chưởng trước (ảnh trên) và sau khi được tôn tạo (ảnh dưới)
 
Cần nhấn mạnh rằng, tất cả mọi thứ trên nằm trong tầm kiểm soát của một người mang tiếng được ăn học với tấm bằng kiến trúc sư ở Ba Lan: chủ tịch thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo!
 
Bài “Khổ như phố cổ” trên báo Lao Động ngày 25/8/2011[4] cho thấy, sau lễ hội Ngàn năm Thăng Long, tiền đã chảy đi như sông suối, nhưng dân khu Phố Cổ vẫn ngột ngạt trong các điều kiện sinh hoạt của 100 năm về trước.
 
Trong phóng sự “Đi xa nhìn về”, nhìn người Mỹ chăm chút từng chứng tích lịch sử, nhà văn Phạm Đình Trọng viết:
 
Tôi lại xót xa nhớ đến những chứng tích hùng hồn của lịch sử và những tài sản vô giá của văn hóa Việt Nam đã bị những quyền lực giai cấp, bị những nghị quyết thiển cận đập phá, xóa bỏ. Phá đàn Nam Giao ở cố đô Huế! Xóa sổ hội trường Ba Đình ở thủ đô Hà Nội! Tượng đá nàng Tô Thị ôm con ngóng chồng ở Lạng Sơn bị cho vào lò nung vôi! Những viên gạch mộc của thế kỉ mười sáu xây nên thành nhà Mạc cổ kính ở Tuyên Quang bị đập bỏ để xây lại bằng vật liệu hào nhoáng của thế kỉ hai mươi!...
 
Nếu tầm văn hóa là ở bằng cấp, học hàm, học vị thì có lẽ công chức Việt Nam có tầm văn hóa cao nhất thế giới! Nhưng cứ nhìn vào việc quản lí các hoạt động văn hóa và quản lí các công trình văn hóa ở ta thì mới thấy tầm văn hóa ở những nhà quản lí đó thảm hại đến thế nào”.[5]
 
Vâng! Chỉ vì với tầm văn hoá thảm hại đó nên các quan chức cộng sản Việt Nam đã sẵn sàng ăn cắp 150 tấn đồng làm sụt lở cả tượng đài kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ hào hùng.
 
Tầm văn hoá ấy đã bị chôn vùi bởi một loại văn hoá khác đang làm cạn kiệt nguồn tài lực của đất nước: văn hoá tham nhũng!
 
Ăn nhanh, nuốt dễ  
 
Chỉnh trang, tôn tạo phố cổ Hà Nội là bài toán phức tạp. Giải bài toán này chắc chắn sẽ nhức đầu vì gặp nhiều xung đột quyền lợi giữa chính quyền và dân chúng ở một nơi mà mét đất mét vàng. Ngoài ra, tôn tạo các công trình cổ là việc làm rất khó, đòi hỏi tay nghề cao và nhạy cảm, dễ bị dư luận, nhất là giới văn hoá nghệ thuật xoi mói, phê phán. Tóm lại là khúc xương khó gặm. Chỗ ngồi trên ghế quan có khi kết thúc sớm hơn lúc tiền có thể chảy vào túi. 
 
Nhanh, nhiều, gọn, không gì bằng mở rộng, xây các công trình mới, tạo ra cơn bão đầu cơ, những cơ hội vàng tiếp theo để các doanh nghiệp nhà nước, nơi sẽ được phân bổ các dự án đầu tư, biến thành những ổ chứa tiền ngân sách cho các quan chức vơ vét thoả mãn lòng tham vô đáy.
 
Quy hoạch mở rộng Hà Nội được Nguyễn Tấn Dũng phê chuẩn với số tiền đầu tư cực kỳ “hoành tráng”.
 
Riêng giai đoạn 2011-2015, tức là thời gian ông Dũng tại nhiệm, tới 69-70 tỷ đôla, còn giai đoạn 2016-2020 là 110-120 tỷ đôla.
 
Tôi không biết, ông Dũng sẽ lấy đâu ra số tiền khủng khiếp này khi mà nền kinh tế Việt Nam đang ở vào tình trạng tồi tệ nhất từ năm 1991. Nợ công, nợ nước ngoài, dự trữ ngoại tệ, lạm phát, tín nhiệm tín dụng, sức cạnh tranh… đều thảm hại.
 
Có làm thì mới có ăn
 
Theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, “đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm 2011 là 350 ngàn tỷ đồng, khoảng 17% GDP. Còn tính cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty, thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay”.[6]
 
Mặc dù vậy, từ 10 năm trở lại đây tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp nhà nước cho ngân sách trung bình chưa tới 20% và ngày một giảm so với chính mình, cũng như so với khu vực tư nhân.
 
Không những thế, tình trạng thua lỗ tăng nhanh chóng mặt, nghiêm trọng nhất từ khi Nguyễn Tấn Dũng giữ chức Thủ tướng vào năm 2006.
 
Hãng Reuters ngày 9/9 dựa trên báo cáo của đảng ủy khối doanh nghiệp trung ương, cho biết dự kiến Tập đoàn Điện lực Việt Nam có thể bị lỗ 11,7 ngàn tỷ đồng; Tổng công ty xăng dầu Petrolimex có thể lỗ tới 1,2 ngàn tỷ đồng; Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) năm ngoái được cứu nguy khỏi tình trạng vỡ nợ, dự trù đã bị thua lỗ hơn 3 ngàn tỷ đồng…[7]
 
Ngoài ra, theo công bố của Kiểm toán Nhà nước hôm 30/8/2011, Tổng công ty Bưu chính sẽ lỗ 1.026 tỷ đồng, Tổng công ty Lắp máy lỗ 103 tỷ đồng, Tổng công ty Sông Hồng lỗ 20,64 tỷ, v.v…
 
Tiền tươi, thóc thật nhận nhiều như núi, ưu đãi đầy mình, sao lại có thể thảm hoạ như thế?
 
Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành lý giải:
 
Ở Việt Nam đang có vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, đó là nạn tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công”. Một công trình bị rút ruột ba, bốn lần. Theo báo cáo của Quốc hội, công trình nào cũng bị rút ruột 5, 10, 20%, thậm chí đến 30%. Hiệu quả không xứng với đồng tiền bỏ ra và chỉ hiệu quả tức thời. Ví như con đường người ta làm chạy được 20-30 năm thì mình làm chỉ chạy được 3-4 năm đã phải đào lên sửa chữa”. [8]
 
Quy hoạch bị lạm phát từ trung ương đến huyện, xã. Các đề án quy hoạch “chẳng liên quan gì với nhau, đôi khi còn phủ định lẫn nhau, khiến tất cả trở thành một mớ hỗn độn”.
 
Trên tờ Doanh Nhân Sài Gòn Cuối Tuần (7/10/2011), ông Huỳnh Bửu Sơn nhận định:
 
Có một thực tế là nhiều tỉnh thành rất thích những dự án lớn, quy hoạch khu đô thị lớn”, “nhiều tỉnh đua nhau làm nhà máy điện, xây cảng biển, sân bay”. “Vũng Tàu dù chỉ cách Sài Gòn có 120km cũng xin làm sân bay quốc tế. Với tư duy kiểu đó, thử hỏi nền kinh tế sẽ phân tán đến mức nào!”. “Nhiều bản đề án quy hoạch rất xa rời thực tế, người ta làm chỉ để được rót ngân sách mà thôi”.
 
Bởi vì, cũng theo ông Bùi Kiến Thành, “quy hoạch và thực hiện quy hoạch tạo mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng tồn tại và phát triển”.
 
Kẻ ăn ốc, người đổ vỏ
 
Cứ cho rằng số tiền khổng lồ trên sẽ “kiếm được”, phần lớn vay của nước ngoài, bằng phép tính số học đơn giản, chúng ta sẽ có ngay bao nhiêu tỷ đôla chảy vào túi các nhà tư bản đỏ!
 
Trong các công trình phục vụ Lễ Nghìn năm Thăng Long, công ty Vinaconex đảm trách dự án mở rộng và hoàn thiện đường Láng-Hòa Lạc (nay là Đại lộ Thăng Long). Từ dự toán gần 3,8 ngàn tỷ đồng đã được điều chỉnh lên trên 7,5 ngàn tỷ đồng, tăng hơn 100%. Mới vài ngày nay, kết luận ban đầu của cơ quan thanh tra đã phát hiện hàng loạt những sai trái, ẩn chứa nhiều dấu hiệu tham nhũng.
 
Vào năm 2015, ông Nguyễn Tấn Dũng hoàn toàn yên tâm với tài sản kếch sù, hạ cánh an toàn, giống như những người tiền nhiệm. Số tiền trả nợ nước ngoài của Việt Nam ở mức hiện tại từ nay đến đó, cả gốc và lãi khoảng 1,5 tỉ đôla/năm, sẽ tăng dần lên, và vào năm 2020 lên đến 2,4 tỉ đôla.
 
Thêm quy hoạch vĩ đại mở rộng Hà Nội nữa, số nợ sẽ bao nhiêu? Chỉ có trời biết!
 
Thế hệ thanh, thiếu niên hôm nay chỉ còn mấy năm nữa thôi sẽ tha hồ thay nhau đi đổ vỏ ốc, gánh vác cái gia tài “nước Việt buồn” mà “một bọn lai căng, một lũ bội tình” để lại.
 
Âu cũng là hệ quả tất yếu của đám cha chú chỉ vì miếng ăn mà phải sống trong sợ hãi, cam chịu kiếp nô lệ, hiện thân thành bầy cừu, nhắm mắt trước bất công và đểu cáng, mặc cho kẻ cai trị đè đầu cưỡi cổ!
 
 © 2011 Lê Diễn Đức – RFA Blog
 
----------------------------------------------------------
Chú thích: Các tư liệu sử dụng trong bài:
 

 *  Đây là trang Blog của Lê Diễn Đức. Nội dung bài viết phản ánh quan điểm độc lập của tác giả.

Comments

Vịnh ông thủ

Nghe ông tải đắc cử
Dân buồn như con thỏ
Đêm rối leo ống nước
Sấu nảy ai biết cho ?
Tay ông cầm cớ đỏ
Mánh mung lập quý nhỏ
Chẳng sợ ai truy tố
Ông trúng Thanh quý to
Mưa vế kéo lủ theo
Điện cột đứng leo xeo
Bà già đói chết cóng
Ông hể ha ..dân nghèo
Trường học đếu tăng giá
Chợ búa cũng không tha
Ông vơ vét lập ...quý
Bùa phép giấy tở ..ma
Bằng cấp ông thì giả
Trường Luật chẳng kinh qua
Công du năm, mưởi nước
Mặt y tá vướn nhà
Nghe ông cam cùng kết
Sui gia vởi "tội đổ"
Bấy nhiêu vẩn chưa đủ
Còn thiếu mỗi ... Đuôi sam..
Nguyên Ngã phương thảo

Gia tài của mẹ là nước Việt buồn

Bạn Diễn Đức ơi!

Có nên trách lãnh đạo cộng sản mà quên tự trách mình không? Tất cả chúng ta đều biết lãnh đạo cộng sản luôn theo đường lối độc đảng, độc tài, toàn trị, không bao dung và phân biệt giai cấp để nhằm phục vụ CSQT, lãnh tụ (bác), đảng và nhân dân của họ. Đại khối quần chúng là giai cấp thấp nhứt, làm vật hy sinh cho họ lợi dụng, bóc lột, giết hại, đè đầu cỡi cổ khi cần.

Thời kỳ chiến tranh, Miền Bắc bị "bác" đảng của họ lừa bịp, bao vây trong bức màn sắt, nên đại khối dân Bắc không thấy, không hiểu được thế giới bên ngoài, đặc biệt không biết gì về xã hội Miền Nam khác hơn là lời tuyên truyền bịp bợm của "bác" đảng. Do đó, dân Bắc như người mù, chỉ tuân lệnh "bác" đảng làm hại chính họ và đất nước. Tuy vậy, không nên trách vì lúc đó Miền Bắc chả biết là họ sai lầm. Nhưng sau 30/4/75 dân Bắc đã thấy rõ xã hội Miền Nam VNCH có tự do, dân chủ, nhân quyền (dù chưa hoàn hão), đa đảng, đa nguyên và thịnh vượng trong lúc Miền Bắc độc đảng, độc tài, đói khát tơi bời. Rồi từ ngày có thông tin mạng đến nay, dân Bắc cũng thấy rõ xã hội lân bang và thế giới có tự do, dân chủ, nhân quyền, đa nguyên, đa đảng đã phát triển mạnh và thịnh vượng cao, đẩy Việt nam xuống hạng chót . Thế nhưng có mấy người Miền Bắc thật sự tỉnh mộng, dám nói sự thật hầu tự cứu chữa tình trạng u tối và sai lầm mà chính họ đã nhúng tay vào từ 1945 đến nay?

Đặc biệt sĩ phu Bắc Hà, có mấy người can đảm nhìn thẳng để nói lên sự thật là Miền Bắc thật sự SAI LẦM và NGU DẠI theo HCM, cờ đỏ và đảng cộng sản tiến đánh Miền Nam. Càng ngu dại hơn là sau 30/4/75 Miền Bắc hiện nguyên hình là PHE BẠI TRẬN trong hòa bình, bỡi quá nghèo đói và dốt nát nên chỉ biết ăn cướp, phá nát Miền Nam. Sau đó thì Miền Bắc âm thầm học hỏi Miền Nam từ việc nhỏ cho đến việc lớn như kinh tế Tự do tư bản mà Miền Bắc sợ quê nên đổi thành kinh tế thị trường kèm cái đuôi định hướng XHCN! Nhưng có hai việc lớn Miền Bắc run sợ không dám học hỏi, áp dụng như Miền Nam đã có, đó là: (1) SỰ THẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM từ thời 1940 đến nay, (2) THỂ CHẾ TỰ DO, DÂN CHỦ, ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG của CỜ VÀNG và VNCH. Chứng tỏ là sĩ phu Bắc Hà và dân Bắc vẫn cố tình né tránh sự thật, âm thầm hay công khai bảo vệ HCM, cờ đỏ, đảng và nhà nước cộng sản để tiếp tay nhau ăn hưởng; bảo vệ quyền lợi riêng cho gia đình, con cháu và dòng tộc. Thế thì đừng trách mấy tên đầu sỏ ở Hà nội làm gì. Hãy trách chung toàn thể dân Bắc trong ngoài vì lòng tham lam, tính toán, đố kỵ và ích kỷ, cho nên VN nghèo đói, tục hậu mà đời sau nữa có khi vỏ ốc còn không có để mà đổ nữa.

Tại sao Dân Nam tôi nêu yếu tố Bắc Nam? Bỡi dân Bắc là con cưng của chế độ, dân Nam là quần chúng hạng bét bị Hà nội thống trị. Do đó khi Miền Bắc đã làm sai quá lớn thì phải can đảm tự đứng lên tiên phuông dấy động phong trào NÓI LÊN TẤT CẢ SỰ THẬT mà chuộc lỗi, kêu gọi nhau cùng VỨT BỎ BỐN BIỂU TƯỢNG ÁC ÔN VÀ SAI LẦM LÀ: HCM, CỜ ĐỎ, ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN. Dân Bắc làm được như vậy thì dĩ nhiên dân Nam sẽ nổi lên hưởng ứng ngay. Lúc đó dù có hàng trăm tên Hùng, Dũng, Sang, Trọng và lũ mặt người dạ thú còn lại cũng phải cuốn gói chạy cho nhanh. Lúc đó VN mới thật sự được giải phóng khỏi 4 thứ ác ôn là Hồ, cờ đỏ, đảng và nhà nước Việt cộng.

Ngày nào mà dân Bắc vẫn còn ởm ờ, né tránh sự thật, uốn lưỡi nói vòng vòng, kêu gọi dân chủ chung chung; hoặc giả bộ dân chủ đổi màu, thí dụ màu xanh nước biển (cho giống đồng phục thanh niên cộng sản), màu trắng, màu xanh lá cây, v.v để diệt màu vàng theo chủ trương của nghị quyết 36 kế, thì VN sẽ không bao giờ có tự do, dân chủ, đa nguyên, đa đảng đúng đắn như các nước văn minh khác hoặc như VNCH ngày xưa.

Do đó Dân Nam tôi đã thẳng thắn trình bày trong 4 phần phản hồi bài viết của ông Phạm đình Trọng vừa rôi. Hy vọng bạn Lê Diễn Đức giúp tán phát về trong nước cho rộng đường thông tin. Bạn Diễn Đức ra đi từ Miền Bắc, dĩ nhiên bạn thấy rõ sự sai lầm nghiêm trọng mà Miền Bắc đã vấp phải. Tôi hy vọng bạn thẳng thắn hô hào mời gọi một triệu dân Bắc đang có mặt ở khối cựu cs Liên Xô, Đông Âu cùng đứng lên kêu gọi Miền Bắc đồng loạt đứng lên vứt bỏ 4 biểu tượng sai lầm, ác ôn. Lúc đó chắc chắn dân Nam trong ngoài sẽ hưởng ứng thì Việt Nam sẽ có tự do, dân chủ tức khắc.

Câu hỏi quan trọng là bao giờ thì sĩ phu Bắc Hà và toàn thể dân Bắc can đảm đứng lên để thúc hối tập thể của cái gọi là "lão thành cách mạng" Hà nội cùng đứng lên xóa bỏ 4 biểu tượng sai lầm và ác ôn đó? Câu hỏi đó chỉ có bạn và toàn thể dân Bắc trong ngoài mới trả lời được. Dân Nam đã đổ máu hy sinh 20 năm chống cộng, xây dựng Miền Nam được tự do, dân chủ, đa đảng, đa nguyên và thịnh vượng. Từ năm 1975 đến nay, dân Nam trong ngoài đã cố gắng giúp nước đồng thời quyết liệt chống cộng, để mong VN có được tự do, dân chủ, đa nguyên, đa đảng như lân bang và VNCH ngày xưa. Chúng tôi, dân Nam, đã làm hết sức mình, bây giờ trọng trách nằm trong tay các bạn Miền Bắc. Hãy dẹp tự kiêu chiến thắng giả tạo trong ô nhục, đứng vào hàng ngũ của phe chiến bại trong văn minh, để sớm vứt bỏ chế độ độc tài, toàn trị và các biểu tượng sai lầm, ác ôn, thì thế hệ trẻ mới có cơ hội không làm người đổ vỏ ốc.

Dân Nam,
Hải ngoại, 11 Oct 2011

tuyet voi cam on

tuyet voi
cam on

Gia tài của mẹ,một nước Việt buồn ...

"Một xã hội của loài cừu sẽ đồng thời phải sinh ra một nhà nước của loài sói."
Bertrand de Jouvenel (1903 – 1987)